Dữ liệu và hệ thống nghiệp vụ
Lập kế hoạch chuyển dữ liệu có bước đối soát
Nạp thành công chưa chứng minh dữ liệu đã giữ đúng ý nghĩa nghiệp vụ. Hãy đối soát số lượng, quan hệ, bản ghi đại diện và thao tác vận hành, rồi dùng kết quả đó để quyết định chấp nhận hay dừng chuyển đổi.
Chuyển dữ liệu chưa hoàn tất khi thanh tiến độ chạy hết. Hệ thống nhận phải có những bản ghi người dùng cần, cùng quan hệ và ý nghĩa sử dụng được. Hãy xem đối soát là phép so sánh giữa bản chụp nguồn đã thống nhất và đích dự kiến, bao gồm phần loại trừ và biến đổi đã ghi rõ.
Xác định ranh giới so sánh
Nêu rõ bản chụp nguồn, phạm vi đích và người nghiệp vụ có quyền chấp nhận kết quả. Quy định bản ghi nào được chuyển, giữ trong kho hay đổi cấu trúc. Địa chỉ khách hàng có thể tách thành nhiều trường đích. Biến đổi đó cần tiêu chí chấp nhận cụ thể, không phải yêu cầu các tệp giống hệt nhau.
Ghi rõ cách công việc tiếp tục trong giai đoạn chuẩn bị. Chọn tạm dừng ghi hoặc thu nhận có kiểm soát các thay đổi cuối. Nếu nguồn đổi sau khi trích xuất mà không có cơ chế thu nhận tương ứng, nhóm không còn cơ sở so sánh ổn định.
Dùng nhiều lớp kiểm tra độc lập
So sánh số bản ghi theo nhóm có ý nghĩa, chẳng hạn thiết bị đang dùng và đã ngừng dùng. Tiếp theo kiểm tra trường bắt buộc, quan hệ và tổng nghiệp vụ phù hợp. Điều tra chênh lệch trước khi tìm cách giải thích cho qua. Tổng khớp vẫn có thể che giấu một nhóm thiếu và một nhóm trùng.
Khóa ngoại PostgreSQL buộc giá trị tham chiếu khớp giữa các bảng liên quan.[1] Đưa kiểm tra toàn vẹn tương đương vào đích, nhưng đừng xem tham chiếu hợp lệ là ánh xạ nghiệp vụ đúng. Công việc có thể trỏ đến tài sản tồn tại nhưng không phải tài sản cần thiết. Hãy lần theo bản ghi đại diện qua toàn bộ thao tác.
Ví dụ giả định: chuyển sổ quản lý dịch vụ
Một nhóm dịch vụ giả định chuyển hồ sơ thiết bị và công việc bảo trì chưa đóng sang ứng dụng mới. Nhóm đối soát thiết bị đang dùng theo địa điểm và công việc mở theo mã thiết bị. Tổng công việc đúng, nhưng ánh xạ gán một số công việc cho thiết bị đã ngừng dùng.
Nhóm dừng nghiệm thu, sửa ánh xạ và chạy lại kiểm tra từ cùng bản chụp nguồn. Nhóm còn thử xem người vận hành có tìm được công việc và lập lịch đúng thiết bị không. Đây là tình huống đề xuất, không phải bằng chứng về dự án chuyển đổi khách hàng đã thực hiện.
Giới hạn rõ khả năng quay lại
COPY FROM của PostgreSQL thêm dữ liệu vào nội dung bảng hiện có.[2] Vì vậy lần chạy lại cần thiết kế thay thế, dọn dẹp hoặc chống trùng có chủ ý. Nên diễn tập quy trình xác định chính xác những bản ghi do lần nhập lỗi tạo ra. Không dựa vào trí nhớ của người bấm nút.
Quay lại có giới hạn. Khi nhân viên đã tạo công việc mới ở đích, trở về nguồn có thể cần đối soát cả phần thay đổi đó. Chốt điểm quyết định, người duyệt và thủ tục khôi phục trước khi chuyển đổi bắt đầu. Yêu cầu người nghiệm thu xem cả mẫu bản ghi bị loại lẫn bản ghi chuyển thành công, để xác nhận phạm vi thực tế đúng với điều nhóm đã thống nhất.
- Ghi bản chụp nguồn và phiên bản quy tắc biến đổi.
- So sánh số lượng theo nhóm nghiệp vụ, không chỉ tổng.
- Kiểm tra tham chiếu thiếu và mã đích trùng.
- Lần theo bản ghi đại diện qua thao tác vận hành.
- Ghi phần loại trừ, chênh lệch chưa giải quyết và người nghiệm thu.
- Diễn tập nạp lỗi và chạy lại có kiểm soát.